T2, 08 / 2017 4:08 Chiều | linh

Đề bài: Soạn bài Tự tình của Hồ Xuân Hương văn 11

I.    Tìm hiểu chung

1.    Tác giả

Hồ Xuâ Hương sinh năm 1722 mất năm 1822. Bà xuất thân từ một gia đình họ Hồ ở làng Quỳnh đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An.  Bà là con của Hồ Phi Diễn, một người học tập rất giỏi , bà tuy nổi tiếng là người thông minh nhưng lại không được học hành đến nơi đến chốn, chủ yếu là tự học.

Lớn lên bà đam mê văn thơ và đã trở thành một thi sĩ với nét thơ vừa thanh vừa tục. Người nhà còn tạo điều kiện cho bà mở phòng để tiếp khách yêu thơ,

Cuộc đời bà bất hạnh khi có ba đời chồng mà toàn phải làm lẽ.

–    Sự nghiệp:

•    Các tác phẩm của bà được viết theo chữ Nôm

•    Các tác phẩm tiêu biểu: chùm thơ tự tình, bánh trôi nước, thiếu nữ ngủ say

•   Thơ của bà luôn bảo vệ những người phụ nữ phong kiến . Có thể nói thơ bà là thơ của tiếng lòng phụ nữ thời kì trọng nam khinh nữ. Bà từng có những vần thơ khá mạnh để bảo vệ những người phụ nữ không may bị chửa hoang :

                       “ Không chồng mà chửa mới ngoan

                     Có chồng mà chửa thế gian có đầy”

->    Bà được người đời mệnh danh là bà chúa thơ nôm

soan-bai-tu-tinh-cua-ho-xuan-huong-van-11

2.    Tác phẩm

a.    Hoàn cảnh sáng tác:

Đây là bài thơ nói về cảnh vợ lẽ của Hồ Xuân Hương. Bà vốn là người nhạy cảm và có một tình yêu đẹp,thế nhưng trong xã hội cũ bà cũng không thể thoát khỏi số phận làm lẽ.Sống trong một cảnh tượng như thế, Hồ Xuân Hương thảng thốt lên tâm sự của mình qua bài thơ Tự Tình.

b.    Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

c.    Bố cục: đề, thực, luận, kết

II.    Tìm hiểu chi tiết

1.    Hai câu đề:không gian thời gian và con người có kiếp vợ lẽ bơ vơ một mình

+ thời gian ở đây là đêm khuya ->  Đây được coi là khoảng thời gian tất cả mọi vật đều chìm vào trong giấc ngủ, thế nhưng nhân vật trữ tình vẫn phải bơ vơ một mình.

 

soan-bai-tu-tinh-cua-ho-xuan-huong-van-11

+ Âm thanh của tiếng trống canh dồn được thể hiện qua từ “ văng vẳng “  nhằm nói lên sự thưa thớt vắng lặng, hiếm hoi.

Loading...

–    “trơ” -> thể hiện sự trơ trọi, không thiết tha gì, mặt như không có hồn -> nỗi buồn vô hạn

–    Ở  đây , nghệ thuật đảo ngữ động từ trơ được đẩy lên đầu câu nhấn mạnh vào trạng thái hiện tại của nhà thơ .

–    “hồng nhan” là cái để nói về người con gái

->    Hai câu thơ đã gợi lên trạng thái và tâm tư của người phụ nữ với kiếp làm lẽ. Đêm đã khuya mọi người chìm vào giấc ngủ, chỉ có người phụ nữ ấy hồng nhan với cảnh vật xung quanh.

2.    Hai câu thực: hướng đến cách giải sầu

+ Nhà thơ đã tìm đến rượu để giải sầu như nhiều người khác nhưng đúng là rượu càng uống vào càng thấy tỉnh.

+ Mặc dù nhà thơ uống nhiều nhưng chén hương đưa say rồi lại tỉnh và những lúc đó nỗi đau lại càng rõ ràng hơn.

+ Mặc dù nhà thơ uống nhiều nhưng chén hương đưa say rồi lại tỉnh và những lúc đó, nỗi đau lại càng hiện rõ hơn trong lòng.

+ Vầng trăng trong bài có thể là vầng trăng ở ngoài trời tối hoặc cũng có thể là tình yêu của người phụ nữ.

+   Trăng khuyết thể hiện sự chưa trọn vẹn của tình yêu

->  Nhà thơ mong muốn tìm rượu giải sầu nhưng nỗi đau kiếp chung chồng “kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” quá lớn khiến cho nhà thơ có uống bao nhiêu thì nó vẫn cứ tỉnh cứ đau

3.    Hai câu luận: nhà thơ như muốn bùng nổ, muốn đi tìm hạnh phúc của mình

+ Hai câu thơ đã sử dụng biện pháp tu từ đảo trật tự cú pháp trong câu nhấn mạnh về hành động của rêu và đá.

+ Nhà thơ rất tinh tế khi nhận ra được sức sống mạnh liệt của những thứ nhỏ bé nhất.

+  PhẢi chăng, những thứ nhỏ bé đó chính là biểu tượng cho nhà thơ và bà muốn đâm toạc xé nát để tìm tới với hạnh phúc của cuộc đời mình. Bà không hề cam chịu sống trong cảnh không hề có sự yêu thương.

4.    Hai câu kết: quy luật khắc nghiệt của thời gian và tuổi trẻ

–    Ngán -> thể hiện sự bất lực, chán chường.

–    “xuân” được lặp lại hai lần kết hợp với điệp từ “ lại” thể hiện sự khắc nghiệt của tuổi trẻ và cả thời gian. Thời gian cứ trôi hết ngày này qua ngày khác, kéo theo tuổi xuân của con người.

–    “mảnh tình” -> nhỏ bé

–    Đã bé lại còn phải san se thành còn tí con con

III.    Tổng kết

Nhà thơ Hồ Xuân Hương đã nói lên tiếng nói của người phụ nữ phong kiến. Họ có quyền được yêu thương và có người bạn đời của riêng mình mà không phải chung chạ. Thế nhưng, thời thế trai năm thế bảy thiếp ấy người phụ nữ phải chịu sự thiệt thòi. Nhà thơ đã nhận thấy được điều đó nhưng cũng không thể làm gì được ngoài việc chấp nhận kiếp làm vợ lẽ.

 

 

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục