T2, 08 / 2017 4:05 Chiều | linh

Đề bài: Soạn bài Tràng giang của Huy Cận văn 11

I.    Tìm hiểu chung

1.    Tác giả

a. Cuộc đời

Huy Cận sinh năm 1919 mất năm 2005, tên khai sinh của ông là Cù Huy Cận. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo quê gốc nông dân. Quê làng Ân Phú huyện Lương Sơn tỉnh Hà Tĩnh

Đặc biệt, Huy Cận còn là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào thơ Mới.

Từ năm 1942, ông tham gia cách mạng và tham gia nhiều cuộc hội nghi quan trọng. Không những thế , nhà thơ Huy Cận còn làm công tác của nhóm tự lực văn đoàn.

b.     Sự nghiệp:

–   Trước cách mạng tháng Tám:

 Tác phẩm tiêu biểu: lửa thiêng, kinh cầu tự, vũ trụ ca…

Trong thời kì này, phong cách nghệ thuật của ông mang một nỗi niềm u uất mà người ta gọi đó là nỗi sầu vạn vạn kỉ.

–    Sau cách mạng tháng Tám:

•    Tác phẩm tiêu biểu: trời mỗi ngày lại sáng, hai bàn tay em, đất nở hoa, bài thơ cuộc đời, những năm sáu mươi…

•  Thời kỳ này, phong cách nghệ thuật của Huy Cận mang một niềm vui hồ hởi hơn so với kì trước cách mạng tháng 8 và mang tâm trạng chung với toàn dân tộc đó là niềm vui xây dựng một chế độ mới và đấu tranh vì hòa bình dân tộc.

soan-bai-trang-giang-cua-huy-can-van-11

2.    Tác phẩm

a.    Hoàn cảnh sáng tác:

Huy Cận là một nhà thơ có tâm hồn phong phú , ông thường dễ nhạy cả, với những khoảng khắc của cuộc đời. Điều làm nên tứ thơ của Tràng Giang đó là mỗi chiều chủ nhật ông thường đạp xe đi một mình lên đê ngắm dòng sông Hồng lặng lẽ trôi, bốn bên bờ cát lặng, những hình ảnh thiên nhiên đang lọt vào mắt ông.

b.    Nhan đề:

Tràng Giang có nghĩa là sông dài . Vầng “ ang “ được điệp lại trong nhan đề giống như âm hưởng vang lên gợi cái mênh mông bao la rộng lớn của dòng sông Hồng.

c.    Lời đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

–   Hai chữ bâng khuâng đã thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ trước sự rộng lớn.

–    Trời rộng được nhân hóa nhớ sông dài hay chính là ẩn dụ cho nỗi nhớ của nhà thơ

II.    Tìm hiểu chi tiết

1.    Bốn câu thơ đầu: cảnh nước thuyền và sóng

–   Sóng Tràng Giang không ồn ào ồ ạt vỗ bờ mà thay vào đó là ở trạng thái tĩnh lặng chỉ gợn thôi.

–    từ láy “điệp điệp” thể hiện một nỗi buồn giằng giặc khó có thể thoát khỏi nó được, phải chăng nỗi buồn của nhà thơ đang chế ngực hính nhà thơ, khiến cho nhà thơ không thể nào thoát khỏi nó được.

Loading...

–    Con thuyền xuôi hai mái nước song song, con thuyền thì lướt trên sóng, rẽ nước mà đi

–    Biện pháp nghệ thuật đối “về” >< “lại” -> sự chia li mang nỗi sầu trăm ngả

–    Một cành củi khô lạc mấy dòng -> nói lên sự cô đơn, giống như một đời người trôi dạt phải vượ qua biết bao nhiêu gian khổ.

-> Bốn câu thơ trên đã gợi lên cho chúng ta thấu rõ một nỗi buồn trăm ngả, cảnh tượng sông hồng hiện lên thật nên thơ , cảnh đẹp nhung rất buồn, nỗi buồn ấy không khiến cho người ta đau đáu trong lòng nhưng lại bủa vây giằng giặc không buông.

2.    Bốn câu thơ tiếp:

–    “lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu” -> sự thưa thớt, nhỏ bé, từ đó tạo nên sự cô đơn vắng lặng.

–    Tiếng chợ chiều vãn nhỏ nhẹ-

–    Không gia ba chiều được mở ra, nhà thơ không dùng nắng cao mà lại dùng từ sâu chót vót để cho ta thấy được không gian ba chiều nhìn từ dưới lên bầu trời như sâu thẳm.

–    Sông càng dài càng rộng thì bến đò người lái càng thấy cô đơn, cô liêu

->    Những hình ảnh bên bờ cũng trở nên buồn hiu khi mọi vật hiện lên đều nhỏ bé và thưa thớt. Nó gợi đến cho chúng ta một sự cô đơn đến ghê người.Không gian như cao hơn , hun hút khiến con người càng nhỏ bé thêm.

3.    Bốn câu tiếp:

– Hàng bèo trôi nối hàng khiến ta liên tưởng đến kiếp người lênh đênh.

–  mông nhưng không có một chuyến đò ngang

–  Không có cầu để qua bên kia sông tìm một chút niềm thân mật

– Mà chỉ lặng lẽ có một chút bờ cỏ xanh rồi đến bãi cát vàng

->    không gian mênh mông như đang choáng ngợp lấy người nghệ sĩ, trên sông không hề có một cây cầu bắc ngang để cho người qua lại, cũng không có một chuyến đò chỉ có bãi cát vàng với bãi cỏ xanh.

soan-bai-trang-giang-cua-huy-can-van-11

4.    Bốn câu cuối:

– Chiều đến những lớp mây đùn lên trắng xóa như những núi bạc

–    Hình ảnh cổ điển: chim nghiêng cánh nhỏ đón buổi chiều buông xuống

–  Lòng nhớ quê của tác giả bỗng dưng dợn lên vời con nước. Ý thơ được lấy gần giống với câu thơ của Thôi hiệu, nhưng ở đây nhà thơ không cần tới khói sóng tác động mà vẫn cứ dợn dợn nhớ nhà.

->    Khổ cuối như kết lại những gì mà nhà thơ muốn thể hiện, nỗi buồn kia chính là nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà.

III.    Tổng kết

Chàng sinh viên trường Canh Nông đã có những phút giây thực sự đắm mình trong không gian rộng lớn của Tràng Giang nhưng trong anh lúc ấy cũng xuất hiện thường trực, một nỗi lo âu về cuộc đời. Bài thơ này tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Huy Cận trước cách mạng tháng 8.

 

 

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục