T2, 08 / 2017 3:49 Chiều | linh

Đề bài: Soạn bài thương vợ của Trần Tế Xương văn 11

I.    Tìm hiểu chung

1.    Tác giả

Tú Xương sinh năm 1870, mất năm 1907, tên thật của ông là Trần Tế Xương. Sống ở Mỹ Lộc , Nam Định.

–    Hiệu là Mộng tích, tự là Mặc Trai. Ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống nho gia. Ông đi học từ rất sớm và nổi tiếng là thông minh. Lớn lên ông đi thi nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong con đường thi cử.

–    Sự nghiệp:

•    Ông để lại nhiều bài thơ có giá trị . Các tác phẩm tiêu biểu: mùng một tết viếng cô Ký, thương vợ, vịnh khoa thi hương…

soan-bai-thuong-vo-cua-tran-te-xuong-lop-11

2.    Tác phẩm

a.    Hoàn cảnh sáng tác:

Tế Xương là một người rất thông minh, tuy nhiên sự nghiệp thi cử của ông cũng gặp rất nhiều gian nan trắc trở. Đã thế, ông lại lấy vợ sớm từ năm 16 tuổi. Ông không làm được gì nhiều, chỉ có tập trung học hành thi cử ra làm quan. Trong những năm tháng đó, vợ ông chính là người lo cho ông từ sinh hoạt cho tới đi thi . chính vì vậy nhà thơ xấu hổ vì không làm tròn trách nhiệm của một người chồng, nhà thơ thương vợ và đã làm bài thơ này.

b.    Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

c.    Đề tài: người vợ

d.    Bố cục: đề, thực, luận, kết

II.    Phân tích

1.    Hai câu đề : giới thiệu công việc của người vợ

–    “quanh năm” -> thể hiện công việc diễn ra hằng giờ hằng ngày rất quen thuộc, với tần suất lớn.

–    Công việc mà vợ nhà thơ làm quanh năm suốt tháng đó là buôn bán

–   địa điểm bán hàng là  “ mom sông “. Gợi lên sự nguy hiểm , bởi vì mom sông thường hay xảy ra sạt lở đất.

–    “nuôi đủ” -> Cuộc sống không được an nhàn, công việc vất cả thế nhưng cũng chỉ đủ ăn đủ sống mà thôi.

–    “năm con với một chồng” ->

Nhà thơ đã đặt mình ngang hàng cùng với những đứa con , kết hợp với số đếm cụ thể như muốn nói tới cái vô dụng của mình và sự vất vả khó nhọc của vợ.

->   Hai câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã giới thiệu được công việc buôn bán thực sự vất vả, chứa đầy những nguy hiểm của vợ mình. KHông những vậy, công việc ấy cũng chỉ đủ để nuôi gia đình. Vì thế nhà thơ đang tự xấu hổ và tự xếp mình ngang hàng với những đứa con.

Loading...

soan-bai-thuong-vo-cua-tran-te-xuong-lop-11

2.    Hai câu thực: sự vất vả nhọc nhằn trong công việc của bà Tú

–    “lặn lội” ->  Nói lên sự nhọc nhằn vất vả đi đêm về hôm.

+ Nhà thơ còn sử dụng cả hình ảnh của con cò trong ca dao để nói về thân phận người vợ.

–    “quãng vắng” là những quãng không có người, chứa đầy những hiểm nguy.

->    Câu thơ gợi lên sự vất vả lặn lội bất chấp nguy hiểm của bà Tú nhằm kiếm sống để nuôi gia đình.

Không những thế, bà còn eo sèo khi thêm giá, bớt giá ở những buổi chợ đông -> mệt mỏi

3.    Hai câu luận: nói về duyên nợ giữa ông Tú và bà Tú

–    Số đếm 1, 2 thể hiện mức độ tăng tiến

–   Người ta thường nói phải duyên phải nợ với nhau mới làm vợ chồng,có duyên không có nợ thì không tới được với nhau.

Tại đât ông bà Tú vừa có duyên lại phải nợ nhau cho nên mới làm vợ chồng, có duyên không nợ thì không đến được với nhau.

Ở đây ông bà Tú vừa có duyên lại vừa có nợ cho nên nhà thơ như đang tự an ủi vợ mình đành chịu phận lấy một người chồng không lo nổi cho gia đình.

–    số đếm “năm nắng mười mưa” giống như một lời biết ơn và khen ngợi của nhà thơ dành cho vợ mình. Ca dao một nắng hai sương thì bà Tú phải chịu hẳn năm nắng năm sương thế nhưng bà chưa một lần than thở với chồng.

->    Hai câu thơ như thể hiện được sự biết ơn cũng như trân trọng vợ mình, ông tự thấy thương cho vợ khi lấy phải người như mình, đồng thời qua đó ta thấy được đức hi sinh của bà Tú.

4.    hai câu kết: nhà thơ tự chửi chính mình

Nhà thơ tự chửi mình, cười mình là người ăn ở bạc béo cho nên mới để cho vợ rơi vào hoàn cảnh như thế.

Có chồng là để cùng nhau đỡ đần làm ăn cho gia đình nhưng đây lại có cũng như không.

->    nhà thơ xấu hổ nhưng không biết làm cách nào để giúp vợ mà chỉ biết tự trách bản thân mình

III.    tổng kết

Bài thơ đã thể hiện được nỗi lòng của nhà thơ hay là chính nỗi lòng của những người tri thức mang mộng sách vở làm chốn quan trường.

Thi cử không xong bỗng trở thành một gánh nặng trên vai bà Tú, nhà thơ chỉ biết viết bài thơ như thầm cảm ơn vợ và cũng tự trách mình không có cách nào giúp vợ được.

 

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục