T3, 04 / 2016 1:32 Sáng | helios

Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Bài Làm

“Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Chẳng bán tình duyên hẹn ước thề”

 >> XEM THÊM: Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

Nhắc đến đề tài thơ ca về tình yêu không thể thiếu ánh trăng, cũng như nhắc đến dòng văn học lãng mạn không thể không nhắc đến nhà thơ Hàn Mặc Tử. Thơ ông mang nhiều màu sắc đan xen nhau tạo nên một nét riêng độc đáo. Có những vần thơ nhẹ nhàng, tinh khiết, đẹp tuyệt vời nhưng có những bài thơ mơ hồ, mờ ảo, “điên điên”. Người ta bảo như thế mới là Hàn Mạc Tử. Rút từ tập “Thơ Điên”, bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” là một trong những tuyệt tác thi ca về tình yêu, vừa là những vần thơ trong trẻo, mát lành về thiên nhiên, lại bừa ẩn khuất nỗi lòng khát khao, buồn man mác.  

phan tich bai tho day thon vi da

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được viết trong những năm tháng cuối đời của người thi sĩ tài ba Hàn Mặc Tử, đó là những tháng ngày ông phải một mình chống chọi lại căn bệnh phong hiểm nghèo. Đó là khi ông nhận được tấm bưu ảnh cùng vài lời hỏi han, an ủi từ người con gái xứ Huế ông thầm thương trộm nhớ. Trong những giây phút đau khổ và tuyệt vọng nhất của cuộc đời, ong đã thả mình vào trong thơ, thăng hoa nỗi đau của bản thân thành những dòng thơ ảo mộng, ẩn chứa trong đó một niềm day dứt, nhớ nhung, khắc khoải về tình yêu, về thiên nhiên nơi xứ Huế đẹp như thơ.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu hỏi mở đầu bài thơ ngọt ngào nửa như mời chào tha thiết, nửa nhau nhẹ nhàng trách móc người yêu biết bao thương nhớ đợi chờ đã làm thức dậy trong hồn thơ Hàn Mặc Tử về thôn Vĩ, về xứ Huế mơ mộng. Đại từ “anh” trong câu thơ đã tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau. Ta có thể hiểu “anh” ở đây chính là dùng để chỉ tác giả. Và có phải chăng, người con gái e ấp giận hờn trong câu thơ chính là bà Hoàng Thị Kim Cúc với bao tâm tư thầm kín?. Chất Huế như ngấm vào cả nhịp thơ, cả chất thơ, khiến câu thơ trở nên mềm mại, uyển chuyển, lại dịu dàng, đằm thắm như thể những lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau.

Cũng có thể hiểu câu thơ giống như một lời mời gọi ý nhị, ngọt ngào mà khó chối từ. Lời mời hấp dẫn rằng Vĩ Dạ thôn em đẹp lắm, nên thơ lắm, sao anh không về thăm, xin mời anh về thăm. Vậy Vĩ Dạ đẹp thế nào, nên thơ ra sao? Điều này được khắc họa sinh động, cụ thể qua những câu thơ sau:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…

 Nhắc đến Vĩ Dạ thôn, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhà thơ chính là cái đẹp thánh khiết, trong trẻo và bình yên của bình minh xứ Huế với hàng cau đượm màu nắng. Bức tranh của thôn Vỹ dần dần hiện lên qua ngòi bút tinh tế của tác giả. Ánh nắng buổi sáng mai tinh khiết, nhẹ nhàng làm cho không gian ở vùng quê trở nên lung linh, dịu nhẹ biết bao. Không gian như cao và xanh hơn nhờ anh nắng ban mai nơi đất Huế. Điệp từ “nắng” càng làm cho không gian trở nên đầy sức sống, làm tăng tính tượng hình, màu nắng như chiếu rọi lên những hạt sương còn đọng lại, khiến từng chiếc lá trở nên lấp lánh, không chói lóa mà vẫn rất rực rỡ.

Ở câu thơ thứ ba: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” nghe hệt như một tiếng reo vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, ngưỡng mộ trước cảnh đẹp thiên nhiên. “Vườn ai” dường như ám chỉ một khu vườn nhà ‘ai” đó mà chỉ “ai” mới biết. Thật tinh tế, kín đáo mà sâu sắc. Ngôn từ được Hàn Mạc Tử sử dụng rất đẹp, rất mềm. Màu xanh của khu vườn không phải xanh thắm, xanh nõn mà là “xanh như ngọc”. Trong trẻo, mát lành và tràn đầy sức sống. Tác giả đặc biệt thành công trong việc sử dụng tính từ “mướt”. “Mướt” ngoài ý nghĩa chỉ sự nhẵn bóng, mềm mại, mượt mà còn có ý nghĩa gợi tả sự non xanh, óng ả, mỡ màng và trong trẻo. Khu vườn chắc hẳn được chăm sóc kỹ lưỡng, chu đáo nên mới có thể tươi tốt, non xanh, nhẵn bóng, ánh lên như ngọc như vậy. Bàn tay ấy phải chăng là bàn tay săn sóc của “ai” trong đại từ “vườn ai” kia? Hay là bàn tay của người núp sau tán trúc trong câu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” ?

Trúc là biểu trưng cho người quân tử, lại che ngang khuôn mặt chữ điền của ai đó, có thể là người khách đến thăm thôn Vĩ chăng? Có khi nào là hình ảnh của người nông dân nơi thôn quê thật thà, chất phác đang chăm nom khu vườn mướt xanh như  ngọc? Hay là bóng hồng e ấp núp sau lá trúc che ngang của người con gái nơi thôn Vĩ? Phải chăng là người con gái đang đợi chờ?. “Mặt chữ điền” ở đây tuy không được chỉ rõ là hình ảnh của người nông dân, của vị khách đường xa hay là người con gái thôn quê xứ Huế, nhưng giữa cảnh sắc thiên nhiên như mộng, như thơ ấy lại được lồng ghép bóng dáng của con người thật càng trở nên sinh động. Thật là hai hình ảnh thật đẹp, hài hòa, làm cho khung cảnh thêm vài phần thi vị nhưng cũng lại thật gần gũi, mộc mạc đúng chất quê.

Loading...

   Cảnh vật và con người thật hài hòa, giọng thơ cũng tươi vui, trong trẻo, nhưng bỗng nhiên đến khổ thơ thứ hai, giọng thơ lạc đi, chùng xuống:

“Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Cảnh vật lúc này không còn là ở trong vườn nữa. Khắc hẳn với khổ thơ đầu tiên mướt xanh sự sống, khổ này tràn ngập tâm trạng u buồn, cô đơn đến lặng người của sự chia ly, xa cách và khắc khoải. Giọng thơ có gió, có mây, có nước, có hoa mà sao chua xót và đầy ám ảnh.

Vốn dĩ mây và gió luôn chung đường với nhau nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại là “gió theo lối gió, mây đường mây”. Có một sự chia lìa đến não nề và đau lòng. Tâm trạng buồn chán, đau đớn của thi sĩ như thể đỏ òa lên cả cảnh vật xung quanh, giống như câu thơ bất hủ của Đại thi hào Nguyễn Du:

“Cảnh nào cảnh chẳng mang tình

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Gió thổi mây bay, vốn không thể tách rời, nhưng gờ đây chia lìa đôi ngả, đường ai nấy đi. Đồng thời, hình ảnh “hoa bắp lay” nhẹ nhàng và rơi rụng xuống dòng sông khiến cho người đọc có cảm giác có cái gì đó đang vỡ tan ra. Nỗi buồn ở đây thật khác, mang dư vị riêng, là “buồn thiu”, buồn đến não nề, tê buốt. Tác giả đã mượn hình ảnh thiên nhiên để nói đến tình cảnh của mình hiện tại. Phải chăng đó là do mang  nặng mặc cảm của một người thiết tha gắn bó với đời mà lại sắp phải ra đi, cùng với mối tình đơn phương dang dở chưa kịp có những giây phút gặp gỡ ngọt ngào đã vội rơi vào cảnh ngộ chia xa?

Thơ Hàn Mặc Tử không thiếu ánh trăng. Một dòng sông tràn ngập ánh trăng, một con thuyền chở đầy trăng, một bến đò trăng và một tấm lòng sáng như trăng luôn chờ đợi, khắc khoải. Thuyền và trăng luôn là những hình ảnh gần gũi đối với thơ ca, Hàn Mạc Tử đã mượn hình ảnh thuyền và trăng để nói lên tình cảm, nỗi lòng của mình. Ở hai câu cuối khổ thơ, người đọc dường như cảm nhận ra một điều gì đó mơ hồ, kì ảo. Đó chính là đặc trưng của thơ Hàn Mạc Tử. Kỳ ảo chính ở cái đầy đủ, viên mãn của chính ánh trăng đang lấp đầy thuyền, lấp đầy sông nhưng lại không lấp nổi lòng người.

Cách sử dụng câu hỏi tu từ ở câu thơ cuối “có chở trăng về kịp tối nay” như bỏ ngỏ, không có ai trả lời. Một từ “kịp” cũng đủ khiến nhịp thơ đột nhiên hối hả, vội vã. Nó giống như một câu hỏi người mà như thể hỏi chính mình, câu hỏi chua xót đến lặng người. Phải chăng tác giả đang mặc cảm về thời gian ngắn ngủi của cuộc đời? giờ đây với ông, sống chính là chạy đua với thời gian, đánh cược với tử thần. Chữ “kịp” kia là kịp để làm gì đây? Kịp về? kịp yêu thương? Kịp nhớ hay để kịp chờ?  

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà”

Từ cõi tỉnh ta bước vào cõi mơ. Không gian cũng trở nên mờ ảo, chẳng biết vì bị bao phủ bởi ánh trăng hay bao phủ bởi nỗi buồn, day dứt lẫn bâng khuâng? Điệp từ “khách đường xa” thể hiện rõ nét tâm trạng khắc khoải nhớ mong về khoảng cách xa vời của một mối tình đơn phương, vô vọng. Đến đây, hình ảnh người con gái Huế dù cho đã xuất hiện rõ nét hơn nhưng vẫn còn rất mơ hồ, mơ hồ đế mức chỉ như một giấc mộng, dẫu thấy áo nhưng lại “nhìn không ra”.Tưởng chừng chính là “em” nhưng lại không phải “em”. “Em” gần thế nhưng mà lại hóa ra xa. Gần gũi vì những hoài niệm trong lòng, nhưng lại bị chia lìa bởi khoảng cách vô hình của thời gian và khoảng cách không gian.

Đại từ phiếm chỉ “ai” một lần nữa xuất hiện cùng câu hỏi như càng làm tăng thêm sự dằn vặt, day dứt, khúc mắc trong tâm hồn. “Ai biết” “tình ai” . Vậy “ai” ở đây là ai? Phải chăng là tác giả? Phải chăng là người con gái Huế thương trong tà áo dài trắng? Câu hỏi lửng lơ chẳng có nổi câu trả lời cứ giống như ánh trăng trên dòng sông, “tình ai” cũng vậy, như ánh trắng trên mặt nước, chỉ có thể nhìn ngắm, nếu chạm vào liệu có phải sẽ vỡ tan? Bài thơ kết thúc vứi một câu hỏi băn khoăn, khắc khoải mà dằn vặt, cứ khiến người đọc vấn vương, day dứt mãi không thôi.

Có người nói rằng “Đây thôn Vĩ Dạ” là nốt nhạc hồn nhiên, trong trẻo đến lạ thường, là bài thơ khác biệt nhất trong tập thơ Điên. Có lẽ đó là do sự trong trẻo, thơ mộng của cảnh sắc thiên nhiên, cũng có thể là do sự hồn nhiên, trong trẻo xuất phát từ chính trái tim khát khao được sống, được yêu, được tha thiết với đời, với người của thi sĩ Hàn Mặc Tử.

>> XEM THÊM: Phân Tích Khổ 1 Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục