T3, 04 / 2016 1:28 Sáng | helios

Đề Bài : Phân tích 13 câu đầu bài Vội vàng và Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu

Bài Làm

Nhắc đến chủ đề thơ viết về tình yêu chúng ta không thể nào không nhắc đến Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu. Xuân Diệu chính là người đã đưa phong trào thơ mới phát triển thêm một tầm cao mới, độc đáo hơn, táo bạo hơn, đề cao cái tôi cá nhân hơn. Thơ ông luôn rạo rực, bồi hồi, ngập tràn nhiệt huyết yêu đời, yêu người. Điều đó được khắc họa đặc sắc, sinh động qua khao khát sống vội vàng, sống hết mình trong 13 câu thơ đầu của tác phẩm “Vội vàng”.

phan tich 13 cau dau bai voi vang

Mở đầu bài thơ là một khổ thơ kỳ lạ. Kỳ lạ không phải là ở thể thơ, nhịp thơ mà là ở nội dung của ý thơ. Xuân Diệu dùng thể thơ ngũ ngôn bình dị để thể hiện cái ý thơ kỳ dị, kỳ dị ở đây chính là nội dung khổ thơ thể hiện ước muốn vừa kỳ lạ, vừa ngông cuồng, vừa trái với quy luật tự nhiên của nhà thơ:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Muốn “tắt nắng”, “muốn “buộc gió”, điều này có thể sao? Thật là những ham muốn, những mộng tưởng vô thực có lẽ chỉ có ở thi nhân. Còn ở thế giới thực, làm sao có thể làm trái với quy luật tự nhiên, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn ngắn ngủi, mỏng manh và vượt xa tầm kiểm soát của con người? Người bình thường chắc chẳng ai dám mơ mà có lẽ cũng chưa từng nghĩ tới, nhưng Xuân Diệu thì khác, ông yêu cuộc sống, yêu đời, yêu người, khao khát yêu và được yêu đến mức muốn sống vội vàng, gấp gáp, muốn kiểm soát và vĩnh viễn hóa những điều tốt đẹp.

Bốn câu thơ đầu là khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ, nhịp thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Đại từ nhân xưng mà tác giả sử dụng  đã là “tôi”, chứ không phải “ta” hay “chúng ta”.Cùng với đó là động từ “ muốn”, nhưng là “tôi muốn” được lặp đi lặp lại liên tục. Nhà thơ đang thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, rất ít dám thể hiện cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là một điểm mới, sáng tạo, độc đáo và dũng cảm của nhà thơ trong nền văn thơ hiện lúc bấy giờ. Thông qua đó thể hiện  một cách sinh động, chân thực khát khao mãnh liệt đến cháy bỏng về cuộc sống

Thế giới xung quanh được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách rất riêng mà không một nhà thơ nào có được. Đó là cảm nhận tinh tế, cháy bỏng nhất của một tâm hồn thơ, một tâm hồn người đầy ham muốn sống, ham muốn yêu, một trái tim tràn ngập tình yêu. Cũng chính vì thế mà thế giới ấy hiện ra trước mắt Xuân Diệu giống như một khu vườn tình yêu đầy hương sắc, ngọt ngào khiến ông muốn ôm lấy, giữ lấy. Như một người tình quyến rũ khiến thi nhân say đắm, yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên. Muốn tham lam chiếm hữu tất cả hương sắc của cuộc đời.

“Của ong bướm này đây tuần trăng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si”

Nhịp thơ đột nhiên biến đổi rõ rệt, đây là một cuyển đổi rất đẹp, rất nghệ thuật, khắc họa được tâm lý của nhân vật “tôi” trữ tình, hay chính là tác giả. Trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. Bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây” như đang bày ra trước mắt ta từng thứ từng thứ một, sinh động, hấp dẫn. Nhịp thơ vui mừng, như hối hả, ngập tràn nhiệt huyết của một con người đang mê man, đang đắm đuối, đang hưởng thu mùa xuân tươi đẹp của cuộc đời. Đó không chỉ đơn thuần là một bức tranh vẽ cảnh xuân, còn là bức tranh khắc họa mùa xuân rực rỡ của tuổi trẻ, của tình yêu với yến anh, với ong bướm lả lơi tình tứ.

Trong thơ Xuân Diệu, vạn vật trong thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, thuộc về nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống tròn trịa có đôi có cặp. Nhà thơ sử dụng các tính từ mang tính gợi hình cao để tạo nên hiệu ứng chân thực, gần gũi như thể bản thân người đọc được theo chân ông, được ông chỉ tay giới thiệu từng chút một.  “ Hoa “ nở trên nền “ xanh rì “ của đồng nội bao la, “lá ” của “ cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở sau. Cuộc sống hiện hình trong trạng thái của một thiên đường trên mặt đất, mang lại cảm giác phi thực tế nhưng lại hấp dẫn đến nỗi bản thân tự nguyện để mình chìm vào ảo mộng đẹp. 

“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Không phải “này đây” mà là “và này đây ”, như thể vẫn còn chưa thoả, chưa hết, còn chưa muốn dừng lại. Đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm “ mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian , đều những thứ không hữu hình. Cuộc sống mỗi ngày ở chốn “thiên đường trên mặt đất” ấy mối ngày đều ngập tràn những niềm vui, chỉ cần giữ cho mình niềm yêu đời, khát khao yêu và được yêu, biết quý trọng vẻ đẹp cuộc sống xung quanh, thì mỗi ngày niềm vui sẽ đều tự tìm tới.

Xuân Diệu thực sự xuất sắc trong việc khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng vẻ đẹp ấy chỉ có thể hoàn hảo khi có con người, dành cho con người, con người biết hưởng thụ. Sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp của thiên nhiên với vẻ đẹp của con người được thể hiện qua “ánh sáng chớp hàng mi”, ảo mộng mà gần gũi, chân thực.  

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất ngờ và độc đáo, táo bạo. Trước Xuân Diệu, chưa từng có ai so sánh thời gian đẹp nhất của mùa xuân với bờ môi thiếu nữ, sau Xuân Diệu, càng chưa có thi nhân nào có sự so sánh độc đáo hơn. Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm. Không những đẹp, mà còn “ngon”. Mặc dù không chạm được, không ăn được nhưng tác giải lại thấy nó “ngon”. Chính điều này càng khiến cho khao khát chiếm hữu, hưởng thụ của thi nhân trở nên mãnh liệt và hiện thực hóa. Mùa xuân sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người. Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Chính vì thế tác giả sau khi thốt lên mới lại đột nhiên tiếc nuối, khiến nhịp thơ cũng bất ngờ chùng hẳn xuống:

“Tôi sung sướng”

Nhưng vội vàng một nửa”

Sung sướng vì được tận hưởng cái đẹp đến ngây ngất, đến vô thực của mùa xuân, nhưng tại sao lại vội vàng, mà còn là “vội vàng một nửa”? Cõ lẽ, vì người thi nhân nhận thức được rằng:

“Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Lúc đầu còn say mê, muốn tham lam chiếm hữu tất cả, muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” muốn khống chế tự nhiên để giữ cái đẹp, giữ mùa xuân ở mãi bên mình; nhưng con gười vẫn chỉ là con người, không thể làm trái quy luật tự nhiên, cũng không thay đổi được quy luật của đời người. Chính vì thế hồn thơ thi sĩ mới buồn, mới não nề, thất vọng thốt lên rằng:

“Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

Sự đối nghịch giữa “đang tới’ và “đang qua”, giữa “non” và “già” tạo nên sự ấn tượng cho hai câu thơ, tạo nhịp gấp gáp, như thể hối thúc nhà thơ càng phải sống sao cho nhanh, cho vội chạy đua với thời gian. Bởi với nhà thơ, sự sống đi liền với mùa xuân, cũng như thời điểm tuyệt nhất của đời người chính là tuổi trẻ, thúc giục phải sống cho hết mình, sống không hối tiếc, yêu và được yêu, hưởng thụ cuộc đời cho thỏa, vì xuân hết thì bản thân cũng không còn là mình nữa.

Loading...

    Mỗi câu chữ trong “Vội vàng” đều là mỗi nét vẽ vô cùng sống động, độc đáo, tái hiện lại cảnh đẹp lãng mạn, tươi đẹp đến nỗi ta có cảm giác vô thực. Dưới con mắt tinh tế, nhạy cảm và đầy nhiệt huyết của nhà thơ, cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống ấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng và không hối tiếc. Đó cũng chính là tư tưởng lạc quan, yêu đời, sống và cống hiến hết mình không bao giờ lỗi mốt chúng ta cần học tập.

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam. Ông đã từ một nhà thơ lãng mạn trở thành nhà thơ tiên phong trong thơ Mới và tiên phong cả trong thơ ca cách mạng. Đem lại cái mới cho thơ Mới, biểu hiện ở cảm nhận hết sức mới mẻ về cuộc đời, và biểu hiện qua thơ tình, đáp ứng thị hiếu của công chúng thời đó, đặc biệt là lớp trẻ. Nhắc đến Xuân Diệu, người đọc không thể không nhắc đến Vội vàng với những quan niệm độc đáo về thời gian. Điều này được thể hiện rõ trong phần thơ thứ hai của bài thơ.

Đối với Xuân Diệu, cuộc đời con người bắt đầu bằng tuổi trẻ, còn mùa xuân là khởi đầu của sự sống.Mùa xuân của tạo hóa cũng như tuổi trẻ của con người vậy. Đó là giai đoạn đẹp nhất, dạt dào sức sống nhất, đáng quý nhất. Vì vậy, thi sĩ luôn yêu quý mùa xuân của tạo hóa và tuổi trẻ của con người. Thế nhưng với Xuân Diệu, mùa xuân luôn luôn vận động:

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”

Các từ ngữ “đương tới”, “đương qua”, “còn non” với “sẽ già” tương ứng, đối lập nhau, diễn tả mùa xuân và thời gian vận động không ngừng. Bước đi của mùa xuân, dòng chảy của thời gian là mải miết, vô tận. Trong hiện tại “đang tới” đã có màu li biệt “đương qua”, chữ “đang” chuyển thành chữ  “đương” là một cách nói điệu đà, rất thơ. Nhưng thể hiện được cái nhìn của tác giả về sự vận động không ngừng của thời gian. Đang tới đấy, còn non đấy nhưng ngay lập tức sẽ qua, sẽ già.

Nếu như con người thời trung đại hình như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Thì quan niệm về thời gian của ông hoàng tình yêu Xuân Diệu lại khác:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”

Với ông, con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Vì vậy, mỗi người sẽ có một lần tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất, nhưng cũng sẽ trôi đi nhanh nhất.

Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn ! Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi, hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ: 

“Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời!”

Đất trời, tạo hóa vẫn còn mãi ở đó, nhưng “tôi” thì “chẳng còn mãi”. Sự sống thì còn mãi, nhưng cuộc đời con người sẽ mất. Vì vậy, Xuân Diệu bộc lộ sự tiếc nuối của mình một cách mãnh liệt. Qua đây, chúng ta thấy được niềm yêu sống của nhà thơ. Vì cái tình yêu mãnh liệt đó, mà thi nhân đã cảm nhận được sư li biệt, chia phôi ngay trong những tháng ngày đẹp nhất của đời người:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”

Đây là một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian. Hai câu thơ dạt dào cảm xúc. Nhà thơ xúc động lắng nghe bước đi của thời gian, tiếng “than thầm tiễn biệt” của sông núi, của cảnh vật. Xuân Diệu rất nhạy cảm với thời gian trôi đi qua “mùi” và “vị” của tháng năm “chia phôi” trong dòng chảy vô tận của nó. Có thể khẳng định rằng ít ai có được cảm nhận về thời gian rất thơ và rất tinh tế như Xuân Diệu.

 “Với quan niệm một đi không trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian. Và người còn cảm nhận thấy thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá, chim chóc cũng cảm nhận được cái quy luật vận động nghiệt ngã ấy của thời gian:

“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

Dường như không phải chỉ môi con người, mỗi nhà thơ nhận thấy thời gian đang trôi đi một cách nhanh chóng, mà “gió” cũng “hờn” vì “phải bay đi”, “chim” cũng “sợ độ phai tàn”. Đoạn thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, nỗi lòng của “gió”, của “chim” cũng chính là nỗi lòng của con người, của thi sĩ Xuân Diệu. Đó là nỗi sợ hãi, là sự hờn dỗi khi mọi thứ đang trôi đi một cách nhanh chóng. Thán từ “ôi” cùng điệp ngữ “chẳng bao giờ” thể hiện được sự nuối tiếc của nhà thơ. Chúng ta đang như thấy Xuân Diệu thốt lên với một sự tiếc nuối vô ngần.

Vì tình yêu cao cả với sự sống, vì sự tiếc nuối sự sống đang trôi đi một cách nhanh chóng đó, vậy nên, con người phải chạy đua với thời gian, phải tranh thủ sống. Xuân Diệu giục giã mọi người mà cũng chính là giục giã chính mình: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”.

Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội vàng đã đủ đầy luận lý ! Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt , vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống sung mãn của mình: 

“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !”

 Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày đặc và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thư pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ ! 

Câu thơ:

“Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thỏa thuê: chuếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng cao, càng vỗ mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong cuộc tình chuếnh choáng men say.

Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ "sống" hay "ham sống" mà ông "say sống". Sống mãnh liệt, hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối – Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó khác với sự nguội lạnh, hờ hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước "thanh sắc trần gian" một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ chán sống.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chố nước non lặng lẽ này”. Phần hai của bài thơ Vội vàng là một dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh điều đó. Bài thơ, giúp chúng ta có cái nhìn, quan niệm đúng đắn về thời gian, về tuổi trẻ, để qua đó, mỗi người sống phải sống xứng đáng. Đừng để thời gian trôi đi một cách vô ích, để khi nhìn lại, thì mọi thứ đã là quá khứ và chỉ còn là sự tiếc nuối mà thôi.

>> XEM THÊM: Cảm Nhận Bài Thơ Vội Vàng

Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục