T6, 08 / 2017 10:46 Chiều | linh

I.    Tìm hiểu chung

1.    Tác giả Trần Tế Xương:

Trần Tế Xương (1870 -1907) , quê quán tại tỉnh Nam Định , sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nho gia hiếu học tuy nhiên số phận  và đường công danh của ông lại vô cùng lận đận và trắc trở. Tuy nhiên với tài năng sớm chớm nở, Trấn Tế Xương đã sớm sáng tác và để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu mang đậm ngòi bút và phong cách của cá nhân

Một số tác phẩm tiêu biểu :

Mùng một tết viếng cô Ký, Bài thơ “Thương vợ” ,tác phẩm Vịnh khoa thi hương…

2.    Đôi nét về tác phẩm

Một người có tài năng và thông minh tuy nhiên lại lận đận đường thi cử công danh. Người xưa vẫn có câu “ học tài thi phận” như ứng nghiệm vào cuộc đời ông. Hơn thế, hoàn cảnh ra đời bài thơ “ thương vơ” cũng ra đời từ câu chuyện đời thường của tác giả, khi ông lấy vợ sớm, mọi sự một tay vợ gánh vác, thương và đồng cảm với vợ nên ông đã viết bài thơ này

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật

II.    Phân tích chi tiết

soan-bai-thuong-vo-cua-tran-te-xuong-van-11

1.    Hai câu đề : công việc của người vợ tảo tần

Trong hai câu đầu tiên của bài thơ Thương vợ tác giả đã có 2 câu ngắn gọn giới thiệu công việc và hoàn cảnh của người vợ của mình. Theo đó công việc của vợ gắn liền với buôn bán nhưng ở địa điểm lại vô cùng vất vả khó khăn bởi ở mom sông, một chỗ vô cùng nguy hiểm và bấp bênh. Nhưng chính vì để chăm lo cho cuộc sống gia đình cho chồng cho con nên công việc đó đã trở thành thường nhật đối với người phụ nữ chịu thương chịu khó như bà Tú.  Không những thế hoàn cảnh của bà Tú trở nên khó khăn hơn khi trong gia đình mình là người trụ cột và chăm lo cho cuộc sống của các con của chồng. Giờ đây ông Tú giống như một đứa con cũng mang tiếng là chồng nhưng “ ăn bám” vợ và chẳng làm được gì giúp vợ. Giọng điệu câu thơ như vừa châm chọc hài hước lại vừa xót xa cay đắng cho số phận và chức vụ của mình

Loading...

2.    Hai câu thực: Hình ảnh của một người vợ lam lũ với công việc vất vả nhọc nhăng

Hình ảnh bà Tú được tác giả miêu tả với thân cò. Xưa nay dường như hình ảnh đó đã trở nên thường trực và biến thành một hình ảnh đặc trưng và phổ biến khi nói về người phụ nữ. Theo đó thân cò lặn lội  như để người đọc liên tưởng tới hình ảnh tần tảo, chịu thương chịu khó và lam lũ giàu đức hi sinh vì con vì cái. Hình ảnh thân cò nơi quãng vắng cũng gợi ra cảnh làm việc đầy gian nan nguy hiểm và không một chút giúp sức của người khác. Chẳng phải chỉ có lúc nắng mưa êm đềm mà cũng có lúc mưa bão thất thường, thân cò vẫn phải chịu đựng

3.    Hai câu luận:Duyên nợ vợ chồng giữa tác giả và vợ

soan-bai-thuong-vo-cua-tran-te-xuong-van-11

–    Để tăng thêm mức độ tăng tiến cho bài thơ, tác giả đã sử dụng “ một và hai” trong câu môt duyên hai nợ như để chỉ ra rằng, bà tú khổ cũng là do duyên nợ, lấy nhau và sống với nhau cũng là do duyên nợ. Vì lẽ đó mà phải gắn bó với nhau an ủi nhau qua kiếp hồng trần.

–  Tiếp đến cách nói”  Năm nắng mười mưa: cũng là cách nói ước lượng để chỉ cuộc đời gian truân nhưng vẫn tần tảo của bà tú để ông tú có thê bày tỏ lời thông cảm dành cho vợ  hết lòng vì gia đình vì chồng con

Qua đó ta thấy được tình cảm và sự cảm thông sâu sắc mà ông tú đã dành cho người vợ vất vả và khổ cực của mình. Đức hi sinh của người vợ quả thật là cao cả

4.    hai câu kết: Suy nghĩ và tâm tư của nhà thơ

–    Chính hai câu cuối mà tác giả mượn thơ để trách bản thân, tiếng cười mỉa mai chua xót cho số kiếp người vợ phải chịu vất vả để nuôi chồng thương con

–    Ông còn tự cười mình vì cho rằng mình  hờ hững cũng như không, vừa mỉa mai vừa chua xot vừa thương vợ

->    Tác giả tự trách và xấu hổ với bản thân mình và như thế để giãi bày lòng thương vợ đồng cảm với đức hi sinh của vợ nhiều hơn.

 

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục